Những khái niệm sơ đẳng về địa chất

Từ vựng để bắt đầu:

  • Một liên đại (eon) có nhiều đại (era)
  • Một đại (era) có nhiều kỷ (period)
  • Một kỷ (period) có nhiều thế (epoch)
  • Một thế (epoch) lại có nhiều thời kỳ (age)

Lịch sử địa chất quả đất chia ra 4 eon liên đại như sau:

  1. Hoả Thành (Hardean Eon)
  2. Thái Cổ (Archean Eon)
  3. Nguyên Sinh (Proterozoic Eon)
  4. Hiển Sinh (Phanerozoic Eon)

Trong đó có 2 lưu ý cần giải thích như sau:

  • Liên đại Hiển Sinh (Phanerozoic Eon) chỉ chiếm 1/8 tổng thời gian từ khi vỏ trái đất hình thành, nhưng trong liên đại này sự sống muôn loài tiến hoá rất mạnh mẽ và rõ rệt, nên còn được gọi là “The Eon of Visible Life”.
  • Liên đại Hiển Sinh bắt đầu với Kỷ Cambria (Cambrian Period) thuộc đại Cổ Sinh, vì thế 3 liên đại trước Hiển Sinh còn được gọi chung là thời kỳ tiền Cambri (Pre-Cambrian Eons).

Đi sâu vào riêng Liên đại Hiển Sinh, lại chia ra 3 đại:

  1. Đại Cổ Sinh (Paleozoic Era) 542 – 251 triệu năm trước.
  2. Đại Trung Sinh (Mesozoic Era) 251 – 65.5 triệu năm trước.
  3. Đại Tân Sinh (Cenozoic Era) 65.5 triệu năm trước cho tới nay.

Cambrian Period: 541 to 485.4 triệu năm trước.

Trước Kỷ Cambri vỏ quả đất gôm về thành một siêu lục địa gọi là Rodinia, hình thành trọn vẹn cách nay 1 tỷ năm. Ngay trước khi bước vào Kỷ Cambri thì Rodinia bị tách ra làm đôi và tạo thành Thái Bình Dương. Khoảng giữa và cuối Kỷ Cambri thì tiếp tục tách ra thành Laurentia (nay là Bắc Mỹ và Greenland), Baltica (nay là Tây Âu và Scandinavia), và Siberia. Thêm vào đó, một siêu lục địa tên là Gondwana được hình thành (nay là Nam Mỹ, Châu Phi, Ấn Độ, Châu Úc, và Nam Cực).

Trước đó nhiệt độ trung bình quả đất là 12 °C, qua Cambria ấm hơn, chừng 14 °C, so với hiện nay là 22 °C. Nước biển dâng, xói mòn tăng, làm thay đổi tính chất nước biển nhất là tăng lượng oxygen làm tiền đề cho sự bùng nổ về sự sống (Cambrian explosion). Sự sống lúc ấy chủ yếu ở ven biển chứ trên cạn ít có và nơi nước sâu ngoài khơi cũng ít có.


Ordovician Period: 485.4 million to 443.4 million years ago

Sự hình thành các thềm lục địa làm mực nước biển dâng cao, lục địa bị ngập sâu. Một lớp phù sa biển được bồi phủ.

Thời kỳ này còn gọi là “Ordovician radiation”. Đại dương xuất hiện những loài không xương sống sơ khai. Trên cạn xuất hiện những loài thực vật và côn trùng đầu tiên. Tuy vậy một đợt băng hà vào cuối kỷ này khiến cho 85% sinh vật biến mất và là cuộc tuyệt chủng lớn thứ hai trong lịch sử quả đất.


Silurian Period: 443.4 million to 419.2 million years ago

Cao độ lục địa thấp hơn nay nhưng mực biển dâng cao hơn nhiều do thời kỳ băng tan cuối Kỷ Ordovician. Khí hậu ấm lên khiến nhiều loài thực vật tái sinh. Lục địa bị ngập nhiều thành những vùng biển nông, các rặng san hô xuất hiện, rất nhiều loài cá sinh sôi. Các loài dương xỉ chiếm lĩnh vùng cạn ven biển. Đi sâu vào lục địa vẫn là những vùng đất hoang.


Devonian Period: 419.2 million to about 359 million years ago

Suốt hầu hết Kỷ Devonian, Bắc Mỹ, Greenland, và Âu Châu nối liền với nhau tạo thành một siêu lục địa ở Bắc bán cầu gọi là Laurussia hoặc Euramerica. Nam bán cầu vẫn là siêu lục địa Gondwana. Đại dương vẫn chiếm 85% bề mặt. Không thấy dấu vết của ice cap trong kỷ này. Nhiệt độ ấm và đồng đều.

Gián dế chuồn chuồn có từ kỷ Devonian này. Tổ tiên loài ốc xuất hiện, lưỡng cư 4 chân xuất hiện.


Carboniferous Period: 358.9 million to about 298.9 million years ago

Giai đoạn đầu (Mississippian) không có biến đổi nhiều, biển Tethys Sea chia tách Laurussia và Gondwana. Giai đoạn sau (Pensylvanian) biển bị lấp hai lục địa nối liền.

Nồng độ oxy đậm khiến côn trùng phát triển to lớn và mạnh mẽ. Gián dế chuồn chuồn có từ Kỷ Devonain đến đây đã có thể xếp cánh và tăng kích thước.

Các loài dương xỉ chiếm lĩnh rộng khắp. Bụi rậm tiến hoá thành cây to cao trên 30m. Các loài lưỡng cư tiến hoá đến đỉnh điểm và xuất hiện bò sát. 


Permian Period: 298.9 million to 252.2 million years ago

Các mảng lục địa nhập lại thành siêu lục địa Pangea, bao quanh bởi đại dương Panthalassa.

Đầu kỷ là giai đoạn băng hà, hình thành các vành đai khí hậu theo vĩ tuyến. Nhiệt độ tăng dần trong suốt kỷ gây khủng hoảng cho hệ sinh thái đại dương và trên cạn. Sau quá trình sinh sôi cao độ đến cuối kỷ cuộc tuyệt chủng xoá sổ 90% các loài. Đây là cuộc tuyệt chủng lớn nhất trong lịch sử trái đất. 


Triassic Period: 252.2 million to 201.3 million years ago

Kỷ Triassic mở đầu cho Đại Trung Sinh (Mesozoic), hoạt động tectonic bắt đầu chia cắt lục địa Pangea.

Biển dâng tái tạo thềm lục địa ngập nước. Các loài sinh vật biển và cạn tái sinh. Khủng long xuất hiện. Thú có vú xuất hiện vào cuối kỷ. 


Jurassic Period: 201.3 million to 145 million years ago

Hoạt động tectonic mạnh mẽ dẫn đến phun trào núi lửa, tạo thành các nếp núi cao hoặc nối đảo vào lục địa. Tách lục địa Laurasia (Bắc Mỹ). Eurasia (Á Âu) và Gondwana (Nam Mỹ, Phi, Úc và Nam Cực). Tạo thành Đại Tây Dương và biển Caribean.

Khủng long sinh sôi đỉnh cao. Khủng long bay tiến hoá thành loài chim đầu tiên. Vàng, than đá, dầu mỏ hình thành cùng vô số khoáng sản khác. 


Cretaceous Period: 145 million to 66 million years ago

Bắt đầu từ Kỷ Jurassic, qua Kỷ Cretaceous lục địa Bắc Mỹ tách khỏi Á Âu, Nam Mỹ tách khỏi Phi Châu, Ấn Độ tách ra, Úc Châu và Nam Cực vẫn nối với nhau nhưng tách ra khỏi Gondwana. Nhiệt độ nóng hơn có thể do hoạt động núi lửa, hai đầu cực không có ice cape. Khủng long sinh sôi ở Nam Cực. Cuối kỷ hình thành những vỉa đá phấn lớn ở Tây Âu, Đông Nga, Nam Scandinavia, vịnh Bắc Mỹ, Tây Úc.

Cuộc tuyệt chủng cuối kỷ xoá sổ loài khủng long. 


Tertiary Period
– Paleogene Period: 66 million to 23 million years ago, – and Neogene Period: 23 million to 2.6 million years ago

Tên gọi Tertiary nay không dùng, nay chia ra làm:

  • – Paleogene Period: 66 million to 23 million years ago. Chia ra làm 3 epoch là Paleocene, Eocene, and Oligocene.
  • – Neogene Period: 23 million to 2.6 million years ago. Chia ra làm hai epoch là Miocene and the later Pliocene.

Các lục địa định hình gần như ngày nay. Đầu kỷ khí hậu nóng nước biển cao chia cắt các lục địa. Cuối kỷ khí hậu lạnh hơn hình thành ice cap ở hai cực. Linh trưởng xuất hiện.


Quaternary Period: 2.6 million years ago to the present, bao gồm hai epoch là Pleistocene và Holocene bắt đầu từ khoảng 11,650 cách nay.

Đánh dấu bởi các đợt băng hà. Khí hậu biến đổi liên tục, biển tiến lùi nhiều lần, dẫn đến biến đổi của động thực vật. Cách nay 200.000 năm loài người hiện đại xuất hiện. 


Spread the love

Bình luận

Your email address will not be published.