Nguồn gốc hình tượng Quan Âm Tống Tử

Sự giống nhau không thể phủ nhận giữa hình ảnh Quan Âm Tống Tử với hình ảnh Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng (Madonna and Child) buộc người ta phải băn khoăn về một mối liên hệ dường như không tưởng giữa Thiên Chúa giáo và Phật giáo. Một vị thánh nữ chung của cả hai tôn giáo lớn nhất thế giới này xuất hiện ở hai nơi cách nhau đến cả 8 thế kỷ, một ở phương Tây một ở phương Đông?

Từ La Mã đến viễn Á

Lần theo bước chân của người Thiên Chúa Giáo sẽ thấy từ thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên, Nestorius vốn là Tổng giám mục của Constantinopole vì cách suy nghĩ dị biệt cho rằng đức Chúa Jesus thần tiên là tách biệt với đức chúa Jesus xác phàm, nên La Mã không cho sống chung phải dẫn dắt người của mình đi về phía đông đến Sassanian ở Ba Tư trước kia để định cư lập đạo. Sassanian chính là cửa ngõ thông thương trên con đường tơ lụa và là bản lề kết nối giữa hai vùng Đông – Tây.

Giáo hội của Nestorius nhanh chóng phát triển và và những môn đồ của Ngài trở thành những người có công tiên phong mở ra những vùng đất mới về vùng viễn xứ phương Đông cho Thiên Chúa giáo. Các nhà buôn Sassanian và Trung Hoa thời ấy đã đem Thiên Chúa giáo của Nestorius và cả hình ảnh Đức Mẹ bồng Chúa Hài Đồng đến vùng Viễn Á từ trước cả khi Phật giáo Đại thừa ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 7.

Đến khoảng thế kỷ 17 dưới thời kỳ Trung Hoa và Nhật Bản cấm đạo Thiên Chúa, việc những người cải đạo từ Phật giáo sang Thiên Chúa giáo cải biến hình ảnh Đức Mẹ và Chúa Hài đồng thành một vị Bồ Tát để thờ tự cũng là điều dễ hiểu. Ở Nhật người ta gọi Phật bà Quan Âm là Maria Kannon.


Rắc rối dị bản ở Việt Nam

Ở nước ta không rõ khi nào hình tượng Quan Âm Tống Tử xuất hiện, tìm đọc các sự tích thì đều là những câu chuyện mang tính dân gian mơ hồ.

  • Sự tích quỷ Nguyệt Lý của trang phatgiao.org.vn, Quan Âm Tống Tử độ cho mẹ con sản phụ.
  • Sự tích ở chùa Bổ Đà, Bắc Giang Quan Âm Tống Tử độ cho vợ chồng hiếm muộn.
  • Ở chùa Mía, Sơn Tây, Quan Âm Tống Tử được tạc theo diện mạo bà chúa Mía là cung phi của chúa Trịnh Tráng, là người cho trùng tu chùa.
  • Ở một số ngôi chùa khác thì Quan Âm Tống Tử chính là Thị Kính theo cốt truyện của vở chèo cổ “Quan Âm Thị Kính” mãi đến nửa sau của TK19 mới ra đời.

Chuyện gán ghép sự tích Thị Kính cho pho tượng Quan Âm Tống Tử thì nguyên do là từ cách tư duy chất phác của người dân quê Việt Nam. Vào nửa sau của TK19 thì nghệ nhân dân gian sáng tác vở chèo “Quan Âm Thị Kính”, sau đó một thời gian thì xuất hiện truyện thơ “Quan Âm tân truyện” với 788 câu họa lại vở chèo. Cốt truyện hư cấu kể về sự tích Thị Kính trở thành Phật bà Quan Âm trong đó Thị Kính phải nuôi một đứa bé mà đứa bé ấy cũng chính là nỗi hàm oan cả đời của cô ta.

Truyện thơ này hiện nay chưa ngã ngũ ai là tác giả, tuy nhiên bản chữ Nôm cổ nhất còn lại là vào năm 1868 và bản chữ quốc ngữ đầu tiên là vào năm 1911. Có điều lạ là không biết từ đâu mà trong “Quan Âm tân truyện” có nói bối cảnh câu chuyện là ở nước Cao Ly…

Tìm về niên đại lịch sử

Các sự tích như trên không có những cơ sở về lịch sử mà thậm chí còn có tính dị đoan, ngay cả giáo lý nhà Phật cũng khó ghép vào. Tuy nhiên nếu khảo lại niên đại trùng tu một số ngôi chùa cổ nổi tiếng có tượng Quan Âm Tống Tử thì ta sẽ thấy hầu hết các pho tượng Quan Âm Tống Tử xuất hiện vào khoảng TK17 tức là thời Lê Trung Hưng đổ đi.

  • Chùa Mía ở Đường Lâm đại tu 1632 thời chúa Trịnh Tráng
  • Chùa Tây Phương ở Thạch Thất đại tu thời chúa Trịnh Tạc và triều Tây Sơn
  • Chùa Bối Khê ở Thanh Oai, trùng tu gần nhất thời Lê Trung Hưng và thời nhà Nguyễn
  • Chùa Kim Liên (Đại Bi) ở hồ Tây, Hà Nội, trùng thu 1771 thời chúa Trịnh Sâm
  • Chùa Bổ Đà ở Bắc Giang đại tu 1720
  • Chùa Đức Sơn ở Nam Đàn đại tu năm 1872 triều Tự Đức

Niên đại nói trên khớp với giai đoạn sát đạo gay gắt đối với Thiên Chúa giáo đồng loạt ở Trung Hoa, Nhật Bản và ở đàng Ngoài của Việt Nam kéo dài từ thời chúa Trịnh Doanh đến triều vua Tự Đức. Hình tượng thánh nữ của Thiên Chúa giáo khi ấy cần phải được cải biến dưới dạng hình tượng của Phật giáo để có thể tiếp tục được thờ tự mà tín đồ tránh được sự tàn sát.

Sự việc tương tự như trên cũng đã xảy ra khi nhà Nguyễn tìm diệt hậu duệ và người trung thành với Tây Sơn. Bộ ba pho tượng Huệ – Nhậm – Sở làm bằng gỗ mít được bí mật thờ ở chùa Bộc dưới dạng Đức Ông qua suốt triều Nguyễn, sau này mới được làm sáng tỏ. Bản sao của bộ ba pho tượng này được làm bằng sứ và hiện trưng bày tại bảo tàng Tây Sơn ở Phú Phong.

Trở về với Nestorius và kết

Năm 1625 tại Tây An người ta phát hiện ra tấm bia đá ghi chép lại bước đường 150 năm của giáo hội Nestorian trên đất Trung Hoa kể từ thời giáo sĩ Alopen năm 653 đã kỳ công rao giảng Tin mừng và được hoàng đế Đường Thái Tông nhìn nhận. Bia đá này được dựng vào năm 781, trên trán bia khắc dòng chữ “Đại Tần Cảnh giáo Lưu hành Trung Quốc Bi” trong đó chữ “Đại Tần” là tên mà Trung Hoa bấy giờ dùng để gọi Roman Empire, còn “Cảnh giáo” là chữ dùng để gọi giáo hội Nestorian.

Bia đá này trong tiếng Hoa gọi ngắn là Cảnh giáo Bi phiên âm phổ biến là Chingchiaopei, tiếng Anh gọi là Nestorian Stele, được làm bằng tảng đá vôi cao 279cm trên đó khắc các đoạn văn bia bằng cả chữ Hán lẫn chữ Syriac cổ. Chân bia đá vẫn là hình con rùa trường tồn vốn đã rất quen thuộc với người Việt ta.

Theo các nhà nghiên cứu thì di vật này bị chôn vùi vào khoảng năm 845 trong thời kỳ sát đạo ở TK9. Đến đây thì việc hình tượng Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng theo chân Cảnh giáo để sang phương Đông không phải là không có cơ sở, và trong các giai đoạn sát đạo về sau này hình tượng ấy có chuyển biến thành một vị nữ Bồ Tát cũng là chuyện hoàn toàn có tính thực tế.


Spread the love

Bình luận

Your email address will not be published.