Lone Biker 2003 – Part 2

Ngày 1
Thứ Sáu ngày 25 tháng 4 năm 2003
Hà Nội đi Bắc Ninh. Đình Thanh Am thờ cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, đền Gióng, đình làng Đình Bản, đền Đô, phòng tuyến sông Như Nguyệt, chùa Lim, chùa Phật Tích, làng Hồ, lăng Kinh Dương Vương, chùa Bút Tháp, chùa Dâu, đền Tán Á, thị xã Bắc Ninh, đền Bà chúa kho. Tối ngủ Bắc Giang.

Sau gần ba tuần gián đoạn vì phải quay trở vào Sài Gòn dẫn đoàn, sáng hôm qua mới kết thúc tour và tiễn khách ở Nội Bài, phần còn lại của ngày thì dùng để chuẩn bị xe cộ, đọc tài liệu và lên chương trình. Sáng nay vẫn một mình một ngựa, một máy ảnh một máy ghi âm và một bị sách tiếp tục cuộc chu du đất bắc, lần này quyết phải đến xem tận mắt những gì đã từng được nghe về xứ Hà Bắc và Cao Bắc Lạng.

Qua khỏi cầu chui Gia Lâm thì không rẽ QL5 mà đi thẳng theo QL1A về phía Bắc Ninh. Nơi đầu tiên cần ghé là đình Thanh Am ở Gia Lâm nơi thờ cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngã rẽ vào đình nằm trên đoạn đường Ngô Gia Tự, đầu ngã rẽ là ngôi nhà số 829 ở vào khoảng Km164 – QL1A. Theo đó đi hướng tây vào chừng 500 m là đến ngôi đình Thanh Am xây cạnh chùa Thanh Am. Trong đình ban thờ chính đặt ngai và bài vị của cụ Trạng Trình, tả Bạch Mã, hữu Xích Thố. Lúc đến thì thấy ngôi chùa đang được trùng tu lớn, còn ngôi đình với mái đao cột gỗ khá đẹp vẫn mang vẻ cũ kỹ chưa tương xứng với thân thế của cụ.

Đình Thanh Am thờ cụ Trạng Trình.

Trở lại QL1A đi vài bước qua trạm thu phí là lên dốc cầu Đuống, ngã tư đầu cầu bên kia đi hướng tây lên Đông Anh, hướng đông lên đê đi 6 km đến đền Gióng. Định vào thăm đền Gióng nhưng đến gần nơi thì bị cấm đường, đang vào hội Gióng nên người làng không cho xe máy đi qua lại, còn rất nhiều nơi phải ghé thăm nên không đủ kiên nhẫn gửi xe đi bộ vào làng (ngày 9/4 âm lịch).

Lại theo QL1A đi hướng bắc đến, thị trấn Đình Bảng nằm đoạn Km155, trong thị trấn có ngã rẽ hướng đông đi 500 m vào làng. Trong làng Đình Bảng có hai cổ tích lớn là ngôi đình làng và ngôi đền Đô thờ Lý Bát Đế.

Đình làng Đình Bảng quả thực là một tuyệt tác về quy mô và sự cân đối hài hoà trong tỷ lệ kiến trúc, mái đình đồ sộ uy nghi bốn góc cong vút dựng trên lớp cột gỗ lim tăm tắp. Ngoài sân đình mấy đứa trẻ mải tranh nhau một quả bóng, trong đình các cụ đang say mê bên bàn cờ tướng và ấm nước chè.

Đình làng Đình Bảng.

Đi qua khỏi đình làng chừng vài trăm mét thì thấy xa xa ngôi Thủy đình của đền Đô. Trong chính điện bày ban thờ tám vị vua nhà Lý, chính giữa là ban thờ của vua Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông.

Đền Lý Bát Đế.

Phía ngoài đền các bà hàng nước không ngớt mời mua món đặc sản là bánh “phu thê”. Con đường mới dài 1 km dẫn từ đền Đô thẳng ra ngoài quốc lộ mà không phải đi qua làng, phía ngoài quốc lộ đó là thị trấn Từ Sơn ở Km154.

Ở Từ Sơn theo TL295 đi hướng tây 7 km thì đến Chờ, ở Chờ lại theo TL286 đi hướng bắc 6 km thì tới xã Tam Đa cách Bắc Ninh 7 km, ở Tam Đa lại nhắm hướng tây đi hơn 2 km thì ra đê sông Cầu ở thôn Đại Lâm, đi dọc đê qua thôn Đại Lâm, thôn Phấn Động thì đến thôn Thọ Đức. Cả ba thôn đều nằm phía ngoài đê, phía trong đê là nơi năm xưa Lý Thường Kiệt xây dựng phòng tuyến sông Như Nguyệt phá Tống và viết nên bài thơ “Nam quốc sơn hà”.

Trung tâm phòng tuyến nằm ở thôn Thọ Đức, ở bãi sông có ngôi đền Can Vang thờ vị tướng nhà Lý, quanh đó là các bãi các gò tương truyền là nơi đóng quân và kho gươm giáo của quân binh. Ngày nay bãi sông ở Thọ Đức và Phấn Động mọc lên vô số lò gạch, còn dân làng Đại Lâm lại sống bằng nghề làm bánh đa và nấu rượu, rượu nấu xong đựng trong các thùng nhựa màu xanh để đầy dọc đường.

Thôn Đại Lâm.
Chùa thôn Phấn Động.
Thôn Thọ Đức.
Đền Can Vang nơi xuất phát bài thơ Nam Quốc Sơn Hà.

Trở lại TL286 rẽ hướng bắc đi thêm 7 km nữa thì vào trung tâm thị xã Bắc Ninh, ngay ở chỗ Tòa giám mục. Ra lại QL1A đi ngược về phía nam chừng 5 km thì đến Lim. Thị trấn Lim nằm ở Km146 – QL1A cách Từ Sơn chừng 8 km về phía bắc, ngay trong thị trấn nhìn phía đông thấy ngọn đồi Lim nho nhỏ nằm sát quốc lộ, trên đó là chùa Lim. Ngôi chùa này hầu như đã tu sửa lại hoàn toàn, các kết cấu đều làm bằng xi măng tô vẽ xanh đỏ không còn gì là vẻ đẹp thanh mặc cổ kính của một ngôi chùa Bắc bộ.

Cổng chùa Lim trên đồi Lim.

Ngay ở chân đồi Lim có con đường TL270 đi về hướng đông 7 km thì đến ngã rẽ hướng nam đi thêm 1 km đến chùa Phật Tích, từ chùa Phật Tích đi tiếp 8 km thì quay trở lại Từ Sơn. Lên chùa phải theo các bậc đá thoai thoải đi lên sườn đồi hai bên lối đi cây cối bao phủ không gian rất u tịch, lên đến sân chùa thì thấy ngay hai hàng thú đá chầu hai bên, những con thú này đều cổ vật của nhà chùa từ đời Trần để lại, trong chính điện có pho tượng phật Di Đà bằng đá cũng là cổ vật đời Trần, vườn tháp sau chùa có những ngôi tháp cổ nhất được xây vào thời Lê ngoài ra cũng có những ngôi tháp được xây dựng sau này.

Nếu không rẽ vào chùa Phật Tích mà theo TL270 đi thêm 1 km nữa thì lên đê sông Đuống ở Cầu Sộp Km14 – TL270, ở đây mà đi đò băng qua bên kia sông là đến gần ngay chùa Bút Tháp, nhưng nên rẽ hướng đông đi đến Km19 thì ra QL38 ở Km13 ngay chỗ bến phà Hồ xưa, nay là cây cầu Hồ khang trang. Con đê này trên mặt vẫn là đường đất đi xe máy thì phải chịu khó hứng bụi của đám xe IFA.

Qua đầu phía nam của cầu Hồ, thì rẽ lên đê đi hướng tây theo TL283 đi chùa Bút Tháp. Đến Km4 thì có ngã rẽ xuống đê vào làng Hồ. Đến Km9 thì thấy lăng Kinh Dương Vương xây ở mé sông, đây là một công trình xây mới hoàn toàn, còn đền thờ Kinh Dương Vương nằm trong làng cách mặt đê có chừng 50 m, ngôi đền vẫn ở trong tình trạng hoang phế, sân phủ lớp cát dày, có lẽ cũng đang chờ được cấp kinh phí trùng tu.

Tiếp tục đường đê đi đến Km11 rẽ xuống đê, xuống đê rồi có thể rẽ phải ngay lập tức đi 700 m vào chùa Bút Tháp hoặc cứ đi thẳng thêm 3 km sẽ đến Dâu.

Chùa Bút Tháp là một ngôi chùa rất lớn, xây dựng trên vùng đất thoáng đãng, kết cấu và trang trí rất đẹp lại có nhiều cổ vật, đúng là một nơi không thể không đến thăm một lần cho biết. Chùa có nhiều gian, mỗi gian một vẻ đẹp, trong chính điện có các bộ tượng phật bằng gỗ mít sơn cánh gián, đẹp nhất là pho tượng Phật bà nghìn mắt nghìn tay và tượng Tuyết Sơn. Gian hậu điện có tòa Cửu phẩm liên hoa dùng vào việc hành đại lễ, đến nay tuổi tác cũng nhiều các nhà sư niêm phong lại tránh việc khách thập phương táy máy làm hư hao cổ vật. Ngoài vườn bên hông chùa vẫn lưu giữ được một ngôi cổ tháp xây bằng đá khá đẹp có lẽ cũng là một di vật của đời Trần để lại.

Chùa Dâu có lẽ là một trong những ngôi chùa tiếng tăm nhất vì sự linh thiêng, đến đúng dịp hội chùa Dâu nên phải chật vật lắm mới chen qua được đám đông dày đặc để vào bên trong chùa. Rất tiếc âm thanh nhộn nhạo của đám đông và quang cảnh lôi thôi bề bộn của dãy hàng quán trước sân chùa làm mất đi không khí linh thiêng nơi cửa Phật, và làm mất đi vẻ mỹ quan của ngôi chùa.

Từ Dâu đi phía tây 4 km thì đến Keo, đi thêm 2 km đến Sủi, thêm 2 km thì ra ngã tư Phú Thụy trên QL5. Nhưng từ Dâu đi hướng đông chừng 4 km thì thấy ngã rẽ vào đền Tam Á, đi tiếp 3 km thì ra ngã tư Đông Côi ở khoảng Km18 – QL38. Ở ngã tư Đông Côi đi về hướng nam đến Km32 là gặp QL5 ở ngã tư Quán Gỏi, còn nếu đi hướng bắc 18 km thì vào trung tâm thị xã Bắc Ninh.

Đền Tam Á không được nhiều người biết đến, đền này thờ Sỹ Nhiếp là vị quan thái thú đầu tiên do Trung Hoa cử sang cai trị dân ta, ông là vị quan tốt, biết chăm lo cho dân và dạy dân đọc viết chữ Hán và truyền cho dân nhiều nghề thủ công nông của người Trung Hoa. Con đường rẽ vào đền khá khang trang, hai bên ruộng lúa vàng ươm bát ngát, xen lẫn là các thửa ruộng dâu xanh rờn, thế nhưng ngôi đền thì lại cũng ở trong tình trạng hoang phế.

Con đường dẫn vào thị xã Bắc Ninh là đường Vệ An, trung tâm thị xã là đường Tiền An hay Ngô Gia Tự. Đường Trần Hưng Đạo là đoạn đầu QL18 đi Phả Lại. Trời đã xế chiều, Bắc Giang cách đó cũng không xa nhưng còn phải tranh thủ ghé thăm đền bà chúa Kho trước khi trời tối.

Lại theo QL1A đi hướng bắc đến Km137 rẽ trái theo đường Bà Chúa Kho đi 500 m thì vào tới đền thờ Bà, trên đường rẽ vào đi ngang qua nhà máy kính Đáp Cầu và làng Cổ Mễ. Dịp này đến đền bà chúa Kho không phải là dịp hội cho nên nhìn quanh thấy cũng ít người, hàng quán cũng chuẩn bị đóng cửa sớm. Ngôi đền sạch sẽ khang trang, các vật dụng thờ tự chắc cũng được làm mới nhưng trông vẫn giữ được nét xưa, phù hợp với không khí chung của cả ngôi đền. Tượng Bà đặt ở tận khám trong cùng cửa đóng then cài, muốn thấy dung nhan Bà phải nhìn trộm qua chấn song đốt tre, Bà ngồi trên ngai mặc hoàng bào uy nghi trông thật xứng với sự linh thiêng của Bà. Thăm đền xong quay ra chụp vội tấm ảnh ngoài tam quan, chẳng may tấm ảnh xấu quá không thể giữ được đành hẹn dịp khác thăm Bà sẽ chụp lại.

Tam quan đền Bà chúa Kho (Ảnh Internet).

Trở lại QL1A lại theo hướng bắc đi một đoạn ngắn thì qua cầu Thị Cầu bắc qua sông Cầu ở Km136 là vào địa phận của tỉnh Bắc Giang. Đi thẳng đến Km129 thì có ngã rẽ hướng tây đi Thái Nguyên, tiếp tục thẳng QL1A qua cầu sông Thương vào trung tâm thị xã Bắc Giang ở Km120.

Vào trong thị xã thì trời đã tối hẳn, đi một vòng cho biết đường sá tiện thể xem có khách sạn nào trông vừa mắt, ghé vào góc đường làm vội tô miến lươn, xong quyết định ra thuê phòng ở một khách sạn tư nhân nằm ngay trên quốc lộ phòng quạt giá 60.000 đồng. Nghĩ rằng như vậy là thuận tiện, nhưng vào ở rồi mới biết của rẻ là của ôi, khách sạn vắng như ngôi nhà ma, phòng ốc cửa giả xộc xệch bẩn thỉu, chắc chắn sẽ có một đêm dài trằn trọc. Tắm vội cho xong rồi thả bộ ra ngoài, đi ngang qua bưu điện thì đến dãy quán bán bia hơi, ghé vào làm vài vại bia với con khô mực, chếnh choáng tí xíu may chăng đêm ngắn bớt.

Ngày 2
Thứ Bảy, ngày 26 tháng 4 năm 2003
Đi Lạng Sơn. Thành Xương Giang, ải Chi Lăng, thị xã Lạng Sơn, động Nhị Thanh Tam Thanh, núi Tô Thị, sông Kỳ Cùng, đền Kỳ Cùng, chợ Kỳ Lừa, chợ Đông Kinh, cửa khẩu Tân Thanh, thị trấn Đồng Đăng, Thất Khê, Đông Khê, Cao Bằng. Tối ngủ Cao Bằng.

Mới gần ba giờ sáng đã không thể nào chịu nổi nữa rồi, đành trở dậy hí hoáy đọc viết, tỉ mẩn mấy tấm bản đồ, lên tiếp chương trình cho mấy ngày tới, sau đó chuẩn bị cá nhân và sắp xếp đồ đạc để sớm lên đường. Đồng hồ chỉ hơn bốn rưỡi sáng tí xíu, ngoài đường ướt mưa đêm, đèn vàng ngọn mờ ngọn tỏ, Bắc Giang không có nơi nào đáng để ghé thăm, quay lại đoạn ngắn chụp tấm ảnh ga Bắc Giang trong đêm lưu chút hoài niệm rồi lại lần hướng bắc tìm đường ra khỏi thị xã đi Lạng Sơn.

Trời tờ mờ sáng lại không có người nên phải mất một lúc mới tìm ra được dấu vết của thành cổ Xương Giang vốn là nơi xưa kia Lê Lợi đại phá quân Minh. Đến đúng Km118, xung quanh toàn là ruộng lúa, nhưng có con đường đất nhỏ xíu dẫn vào rặng tre phía đông quốc lộ, đi vào đó chừng 50 m là thấy tấm bia xây bằng xi măng đánh dấu góc đông bắc của thành Xương Giang, các góc khác có lẽ cũng có những tấm bia tương tự, nhưng điều dễ thấy là quốc lộ ngày nay hầu như đi ngang qua chính giữa cổ thành khi xưa.

Đi tiếp con đường QL1A cũ này cho đến Km113 thì gặp đường QL1A mới, con đường mới là đường cao tốc rộng thênh thang xe chạy vun vút, nhưng điều rắc rối là ở chỗ đây mới là Km109 của con đường mới trong khi tính theo đường cũ thì lại đã là Km113.

Thị trấn Kép nằm ở Km100, ngã rẽ hướng tây là TL265 đi Bố Hạ 10 km. Đi tiếp đến Km95 thì vượt cầu Lường bắc qua sông Thương để vào địa phận của tỉnh Lạng Sơn, lúc này trời đổ mưa to, phải ghé mua chiếc áo mưa mỏng để mặc cho đỡ lạnh. Đi tiếp chừng chục cây số thì có ngã tư rẽ phải vào thị trấn Mẹt 2 km, rẽ trái đi Bắc Lệ 12 km. Đi thẳng đến Km77 thì qua cầu Cai Kinh, đặt tên theo khối núi đá vôi nằm sát phía tây quốc lộ.

Đến Km62 thì quốc lộ lại rẽ ra làm đôi, con đường mới xây gần như song song với con đường cũ nhưng nằm về phía đông, con đường cũ thì đi qua một loạt các di tích của ải Chi Lăng xưa, đi qua trung tâm thị trấn Đồng Mỏ, vượt đèo Sài Hồ để lên Lạng Sơn. Đương nhiên người hiếu kỳ sẽ theo con đường cũ để được tận mục sở thị các di tích xưa.

Rẽ trái ở Km62 đi ven chân núi đến Km56 thì ngước nhìn phía tây sẽ thấy ngọn núi Mặt Quỷ vốn có tên chữ là Quỷ Môn Quan, hình đôi mắt con quỷ hiện ra rất rõ trên sườn núi, khi xưa nơi này hoang vu chim kêu vượn hú, quân binh nhà Minh lọt vào hẻm núi hiểm trở khí núi âm u lại thấy hình thù bí hiểm của đôi mắt kia, nhuệ khí không khỏi hao hụt ít nhiều.

Đoạn đường này bây giờ hoang vắng ít xe cộ qua lại, dọc chân núi và sườn núi dân trồng mãng cầu bạt ngàn, dưới thung lũng thì ruộng thuốc lá xen lẫn nương ngô trải dài bát ngát.

Lại thẳng hướng bắc đến Km42 thì chui qua cầu xe lửa đi Bắc Lệ, cầu xe lửa này xây nối liền hai ngọn đồi bắc qua một thung lũng lớn, may gặp đúng lúc có đoàn tàu xình xịch chạy qua vội bấm ngay kiểu ảnh, nhờ thế mới thấy cây cầu cao lớn dường nào.

Đi một đoạn nữa thì bắt đầu lên đèo Sài Hồ, đèo này dài cũng phải chừng năm sáu cây số cả lên cả xuống, trên đèo thấy có những dải đất đỏ như đất bazan, người dân tộc trồng rất nhiều dưa hấu.

Đèo Sài Hồ.
Ngầm Thác Trà.

Trung tâm thành phố Lạng Sơn nằm vào khoảng Km14 – QL1A, ngã sáu Pò Soài là điểm nút giao thông quan trọng nhất dẫn từ nội thành đi các hướng. Trong thành phố có hai ngôi chợ lớn là chợ Kỳ Lừa và chợ Đông Kinh, chợ Kỳ Lừa lâu đời hơn còn có tên là chợ Đêm, còn chợ Đông Kinh thì xây ở khu vực trung tâm thương mại mới của thành phố ngay bên cạnh dòng sông Kỳ Cùng.

Đền Kỳ Cùng cũng nằm sát ven sông ngay đầu cầu Kỳ Cùng, ở đây thấy có cột mốc đề Km00 – QL4B đi Tiên Yên ở Quảng Ninh.

Động Nhị – Tam Thanh và núi Tô Thị nằm cùng trong một quần thể đá vôi ở phía tây của thành phố. Động Nhị – Tam Thanh có đường sá ra vào dễ dàng, lối vào động được xây dựng khang trang.

Nàng Tô Thị vẫn đứng đó một viên đá nhỏ xíu trên vách núi Tô Thị, nhưng trông như có điều gì không ổn. Gửi xe cho bà hàng nước rồi ôm ba lô theo bậc thang lên núi, bậc thang khá dài và dốc, bức tường thành cũ của nhà Mạc đen thẫm màu thời gian chắn ngang đầu bậc thang. Trên núi có một khoảnh đất bằng phẳng rộng như cái sân bóng đá, xung quanh đó là tàn tích của các bức tường thành, trên cao nhìn xuyên qua các bức tường ngó xuống thung lũng phía dưới mới thấy tiền nhân khéo chọn vị trí hiểm yếu xây thành.

Đỉnh núi nằm cao hơn mặt bằng này một chút, leo lên vài bước thì đã đứng ngay sau lưng tảng đá nàng Tô Thị bồng con, dưới chân có bát hương lạnh chắc cũng lâu chưa có người lên thăm. Chẳng cần phải có con mắt tinh cũng phát hiện ra mạch vữa xi măng gắn các viên đá nhỏ lại để tạo dáng cho hai mẹ con, người nào chủ trì việc trùng tu này hoặc là vô trách nhiệm hoặc không có một tí khái niệm gì về địa chất và mỹ quan, mấy hòn đá trắng tươi gắn bằng xi măng chẳng ăn nhập gì với nền đá vôi gốc màu xám thẫm. Thật là đáng tiếc! Chỉ cần vài tay thợ vườn chuyên làm bonsai cũng thừa sức làm tốt hơn cả cái gọi là ban quản lý di tích.

Muốn đi Đồng Đăng thì có thể bắt đầu từ ngã sáu Pò Soài hoặc từ chợ Kỳ Lừa cứ nhắm hướng bắc mà đi thế nào cũng ra QL1A mới, dẫn lên thị trấn Đồng Đăng. Cách biên giới chừng 4 km thì có trạm kiểm soát của hải quan, đi vào Đồng Đăng thì không ai để ý nhưng từ Đồng Đăng đi ra thì ngay cả xe máy cũng bị chặn lại, túi xách bị lục tung để tìm hàng lậu. Ngay sát trạm hải quan nhất là về phía nam thấy đội ngũ cửu vạn tập trung đông đúc, người ta vác hàng từ các con đường mòn trong núi vượt qua trạm rồi nhanh chóng cho lên xe máy đèo hàng về Lạng Sơn hoặc xa hơn, ở đoạn đường này dân cửu vạn sử dụng chủ yếu là xe Minsk phóng rất nhanh không kiêng nể ai cả. Điều tự hỏi là không hiểu chư vị hải quan ngồi ở cửa khẩu để làm cái tích sự gì?!

Cách biên giới chừng 2 km thì có ngã rẽ vào thị trấn Đồng Đăng, đi thẳng thì ra cửa khẩu Hữu Nghị Quan nhưng không đến được cột mốc đầu quốc lộ, muốn làm điều đó tốt nhất là phải xin công an Lạng Sơn tờ giấy phép rồi mới được vào khu vực cửa khẩu. Trong thị trấn Đồng Đăng có cột mốc Km00 – QL4A đi dọc biên giới để lên Cao Bằng. Cứ theo con đường này mà đi đến Km8 thì có ngã rẽ phải đi Tân Thanh 8 km, ta đi phía trái đến Km14 là thị trấn Na Sầm.

Trong thị trấn này có một ngã ba, muốn lên Cao Bằng thì đi phía phải tiếp tục QL4A, đi ngược sông Kỳ Cùng đến Km50 thì vào trung tâm thị trấn Thất Khê. Đoạn đường này vất vả lắm, khúc đường cũ thì rất xấu, khúc đường mới thì đang bạt núi san nền, chẳng được mấy đoạn trơn tru.

Đoạn đường từ Thất Khê lên Đông Khê dài khoảng hai chục cây số, muốn lên Đông Khê thì phải qua đèo Bông Lau. Đường đèo áng chừng cũng phải gần chục cây số, đường dốc cao quanh co nhỏ hẹp, ranh giới giữa hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng nằm trên đèo ở Km66.

Đèo Bông Lau.

Trung tâm thị trấn Đông Khê nằm ở Km75, trong thị trấn thấy ngọn đồi và bia kỷ niệm chiến thắng Đông Khê.

Cao Bằng nằm cách Đông Khê chừng hơn bốn chục cây theo trục đường QL4A, đoạn đường này quanh co vắng vẻ đèo dốc liên tục, hai đèo lớn hơn là đèo Ngườm Kim Km81 – Km85 và đèo Khau Khoang Km89 – Km93. Trung tâm thị xã Cao Bằng nằm ở Km118 – QL4A, nhờ sáng khởi hành sớm nên tới được Cao Bằng lúc trời vẫn chưa tắt nắng.

Đi vào thị xã từ phía đông phía cầu Hoằng Ngà, qua bưu điện, bến xe cũ thì đến chợ Cao Bằng, chợ quay về phía bắc nhìn về phía con sông Bằng Giang. Khu vực hành chính nằm ngay phía sau chợ tức phía nam thị xã, theo cầu Bằng Giang qua bên bờ bắc là khu vực mới, bến xe mới nằm ngay đầu cầu, đi xuôi về phía cầu Hoằng Ngà sẽ thấy khu cà phê nhạc và các nhà hàng ăn uống, đi ngược về phía kia thì ra đoạn ngã ba sông Hiến và sông Bằng Giang. Một dãy nhà nghỉ nằm đối diện bến xe cũ, nhà nghỉ Ngọc Sơn phòng máy lạnh rất sạch sẽ giá 100.000 đồng, dãy hàng quán bán khuya nằm ngay xung quanh.

Ngày 3
Chủ nhật ngày 27 tháng 4 năm 2003
Cao Bằng, Trùng Khánh, thác Bản Giốc, hang Pắc Bó, mộ Kim Đồng. Tối ngủ Cao Bằng.

Điểm tham quan tiếng tăm nhất ở Cao Bằng là thác Bản Giốc ở Trùng Khánh và khu di tích lịch sử Pắc Bó. Nhìn trên bản đồ thấy từ Cao Bằng hai nơi này đi hai hướng khác nhau, thác Bản Giốc đi về chừng hai trăm cây số, hang Pắc Bó đi về mất trăm hai chục cây, nghĩa là phải đi nhanh lắm mới kịp thăm cả hai nơi trong một ngày. Có điều nên nhớ là phải xin giấy phép của công an tỉnh Cao Bằng trước khi lên thăm thác Bản Giốc vì thác nằm ngay trên đường biên giới Việt Trung.

Qua khỏi cầu Bằng Giang thì đi thẳng theo QL3 để lên Trùng Khánh, trung tâm Cao Bằng được tính là Km275 của con đường này. Đi đến Km292 thì ngang qua Án Lại là một bản làng nhỏ nằm trong thung lũng trồng đầy ngô, khu vực này thấy địa hình đá vôi và đá phiến được cấu tạo xen lẫn với nhau, các ngọn núi đá vôi như mọc lên từ nền đá phiến, quang cảnh ở đèo Mã Phục rất tiêu biểu cho khu vực này.

Đèo Mã Phục dài 4 km bắt đầu từ Km293, con đường xây trên nền đá phiến chạy quanh co giữa các bức tường đá vôi dựng đứng cheo leo, Km297 phía trên đèo là thị trấn Quốc Toản có ngã rẽ tay trái đi Trà Lĩnh 15 km, đi Trùng Khánh thì chọn con đường bên phải.

Đi thẳng QL3 đến Km312 thì vào thị trấn Quảng Uyên, trước khi vào thị trấn thấy ngã rẽ hướng đông đi Tà Lùng 33 km. Đoạn đường này nghe vang tiếng búa từ các lò rèn của người dân tộc, có lẽ đây là một trong số ít ỏi những nghề thủ công còn tồn tại trong cộng đồng người vùng cao vì nó phục vụ cho công việc trồng trọt thiết yếu, những nghề khác hầu như đã mai một vì sự trao đổi hàng hóa thuận tiện với người Kinh. Lác đác vài cái ăng ten chảo sáng choang của nền khoa học kỹ thuật hiện đại gắn trên nóc mấy gian nhà vách gỗ xiêu vẹo ẩn hiện sau mấy tàu lá chuối.

Thị trấn Quảng Uyên là trung tâm huyện Quảng Hòa, đường QL3 coi như chấm dứt tại đây, muốn đi Trùng Khánh thì theo đường TL206. Đi ba cây số thì đến cột mốc Km3 có ngã rẽ hướng đông đi Hạ Lang, đi thẳng đến Km27 thì vào trong trung tâm thị trấn Trùng Khánh. Đoạn đường này rất đẹp, địa hình cao nguyên đá vôi thể hiện rất rõ ràng, vô số ngọn núi đá vôi hình tai mèo mọc lô nhô trong các thung lũng, bao bọc xung quanh là các dãy núi đá vôi lớn hơn trùng trùng điệp điệp. Chợ Trùng Khánh sáng nay tấp nập, người dân từ các ngả đường đều đổ dồn về hướng chợ, phiên chợ vùng cao vẫn thường như vậy.

Qua khỏi chợ đến chỗ văn phòng hạt kiểm lâm thì rẽ ngã phải đi thác Bản Giốc, từ đây đến thác còn phải đi 27 km nữa. Cách thác 9 km thì dừng lại trình giấy ở đồn biên phòng Đàm Thủy, vào gần đến thác thì thấy ngã rẽ phía phải đi vào động Ngườm Ngam 1.8 km, đi thẳng thêm chừng cây số nữa thì thấy thác Bản Giốc chảy phía dưới thung lũng sông Quây Sơn.

Gửi xe ở hàng nước chỗ đồn biên phòng ở phía trên đường lộ rồi đi bộ xuống thung lũng, cứ ven mép ruộng mà đi, đôi chỗ người dân làm mấy chiếc cầu nứa rồi thu tiền khách qua lại cứ mỗi người một ngàn đồng. Thác Bản Giốc tháng này ít nước, nhưng cứ nhìn vào hình dáng của các tầng đá và màu xanh tinh khiết của cây cối rêu phong thì đã thấy thác này đẹp lắm, vào mùa mưa cảnh vật còn đẹp hơn biết chừng nào, không phải vô vớ mà người ta cho rằng đây là thác nước thuộc vào loại đẹp nhất Việt Nam.

Con sông Quây Sơn chia ranh giới Việt Nam và Trung Quốc, thác nước cũng một nửa thuộc ta một nửa thuộc bạn, có điều thác lại nằm hơi chếch trên sông xoay mặt về phía ta, nên có nhiều khách bên kia tìm cách sang được bên này để ngắm thác và chụp ảnh. Phía dưới thác trên mặt sông cả hai bên đều làm bè nổi có mái che để mọi người ngoạn cảnh, phía bên kia sát gần chân thác người ta còn dựng một đài ngắm cảnh bằng tre.

Quay trở lại Trùng Khánh, ngay phía nam thị trấn chỗ có văn phòng chi cục thuế thấy có ngã rẽ hướng tây đi Trà Lĩnh, con đường này không thấy vẽ trên bản đồ nên phải hỏi thăm dân địa phương mới dám đi. Đoạn đường đi Trà Lĩnh dài khoảng 30 km chạy giữa các ngọn núi tai mèo và các thung lũng đá vôi, mặt đường nhựa xưa nay đã bị hỏng hết.

Thị trấn Trà Lĩnh trông nhỏ bé và nghèo nàn lắm, ghé đổ xăng ngay đầu cầu Trà Lĩnh xong rồi theo hướng nam đi về Mã Phục, lác đác thấy vài bồn nước bằng xi măng do UNICEF xây cho dân nằm chơ vơ bên sườn núi.

Về đến Cao Bằng đã gần hai giờ chiều, nắng cháy rát hai cánh tay nên ghé qua khách sạn lấy thêm chiếc áo sơ mi khoác tạm rồi lại qua cầu Bằng Giang rẽ hướng tây đi Pắc Bó. Con đường từ nội thành đi Pắc Bó cũng có tên là đường Pắc Bó, đoạn đầu có trồng nhiều cây bằng lăng mùa này ra hoa tím rực.

Đi thẳng, thị trấn Nước Hai nằm ở Km17, thị trấn Hà Quảng nằm ở Km42, ngã tư Đôn Chương nằm ở Km47 ở đây có ngã rẽ hướng đông đi Trà Lĩnh, nếu biết sớm thực ra đã có thể đi thẳng từ Trà Lĩnh về đây mà không cần phải rẽ về Cao Bằng.

Tiếp tục đi thẳng qua ngã tư Đôn Chương chừng 2 km thì thấy bia chỉ đường vào mộ Kim Đồng, tượng đài của anh Kim Đồng xây tựa lưng vào bức tường đá vôi sừng sững.

Từ đây theo đường lớn đi 6 km nữa thì đến văn phòng khu di tích Pắc Bó, gửi xe xong nhìn ra là thấy ngọn núi Các Mác đứng bên dòng suối Lê Nin trong veo. Theo con đường lát đá đi bộ một vòng vào hang rồi đi ra nơi bàn đá của Bác trước khi quay trở lại chỗ gửi xe. Hang đá nơi Bác ở rất nhỏ hẹp, một phần lộ thiên nhờ cây cối um tùm mà che nắng che mưa, trong hang có vài cây nhũ đá, không khí mát lạnh.

Lên xe quay lại Cao Bằng, đoạn đường dài năm sáu chục cây số hai bên trồng đầy thuốc lá, có lẽ thuốc lá Cao Bằng còn nhiều hơn cả Lạng Sơn. Về tới thị xã đúng sáu giờ tối, một ngày chạy xe miệt mài nhưng thu hoạch được nhiều điều hay. Lang thang ra ngoài làm chén rượu khuya, thấy chè bưởi An Giang trước chợ ghé vào ăn hai ly một lúc, không hiểu sao thèm ngọt. Mai đi Bắc Kạn tối nay phải ngủ một giấc cho ra trò.

Ngày 4
Thứ Hai ngày 28 tháng 4 năm 2003
Đi Bắc Kạn. Nà Phặc, Chợ Rã, Ba Bể, Phủ Thông, Thái Nguyên. Tối ngủ Thái Nguyên.

Qua chợ rẽ hướng nam đi ngang qua tượng Bác rồi theo đường Thanh Sơn ra QL3 rời khỏi Cao Bằng. Trung tâm Cao Bằng tính là Km275 – QL3, đi hướng nam đến Km255 thì qua đèo Cao Bắc, ranh giới Cao Bằng – Bắc Kạn nằm ở Km240. Thị trấn Ngân Sơn nằm ở Km213, thị trấn nhỏ bé được đặt tên theo dãy cánh cung granite đồ sộ. Theo QL3 đi tiếp về hướng nam xuống khỏi đèo Gió Km213 – Km199 thì đến Nà Phặc ở Km192, ở đây đi ngã trái theo đường QL3 về Phủ Thông, đi ngã phải đi Ba Bể rồi cũng có ngã quay trở lại Phủ Thông.

Từ Nà Phặc theo TL212 đi 12 km thì rẽ trái qua cầu Bản Mới là vào QL279 ở Km139, theo con đường này đi đến Km158 là thị trấn Chợ Rã. Vùng này cũng trồng thông, nhặt nhánh lá lên xem thử mới biết là thông hai lá. Ở Chợ Rã rẽ ngã hướng đông theo TL258 đi 40 km thì đến Phủ Thông, còn rẽ hướng tây đi 15 km thì đến vườn quốc gia Ba Bể. Chợ Rã là một thị trấn nhỏ nhưng có thể coi là cửa ngõ và là nguồn tiếp tế của vườn Ba Bể, thị trấn chỉ có một con đường duy nhất, các ngôi nhà mái ngói nâu sòng đều đặn chạy dọc theo con đường, cảm giác như đi vào một dãy phố cổ, nhà nào cũng dựng cột kèo cửa vách bằng gỗ, gỗ lấy trên rừng Ba Bể chắc không thiếu.


Hồ Ba Bể là hồ kiến tạo tự nhiên lớn nhất Việt Nam, hình thành do sự sụp lún của địa hình đá vôi, được bao bọc giữa vùng rừng nguyên sinh rộng lớn nay được quy hoạch thành vườn quốc gia. Vẻ đẹp của hồ Ba Bể rõ ràng cũng do địa hình đá vôi mà có được, mặt hồ phẳng lặng nước trong xanh ôm lấy vài đảo đá chơ vơ, xung quanh đồi núi trùng điệp cây cối um tùm cảnh vật hoang sơ. Ven hồ vài chiếc thuyền lặng yên chờ khách. Một con đường nhỏ dẫn sâu vào rừng, đi thử một đoạn, cây cối âm u hơi đá mát lạnh bướm vàng bay rợp đường.

Từ Chợ Rã theo TL258 đi 40 km đến đầu đương là đến Phủ Thông, đường hẹp đồi núi quanh co nhưng mặt đường khá tốt, phía nam vươn lên đỉnh Bia Bjoc cao 1578 m. Phủ Thông nằm ở Km174 – QL3 cách Nà Phặc 18 km, ở đây tiếp tục theo QL3 xuôi hướng nam đến Km156 là vào trung tâm thị xã Bắc Kạn.

Thị xã Bắc Kạn cũng không lớn, đường Trường Chinh cắt ngang qua trung tâm hành chính xây dựng khang trang, nhưng đường Hùng Vương dẫn vào chợ và khu dân cư buôn bán sầm uất hơn. Dạo xe một vòng quanh phố, ghé rửa cuộn phim rồi tìm chỗ ăn tạm buổi trưa, lúc này trời lại đổ mưa, mưa rất to.

Cả hai con đường chính đều dẫn ra khỏi Bắc Kạn lại theo QL3 đi hướng nam để về Thái Nguyên băng qua vùng trung du đồi cọ, nhìn ra vẫn thấp thoáng con sông Cầu bám dọc phía đông đường quốc lộ. Thị trấn Chợ Mới nằm ở Km144 có ngã rẽ hướng đông đi 57 km đến Na Rì, ngã rẽ ở Km100 phía tây đi Định Hóa 20 km, ngã rẽ ở Km96 phía đông đi Phú Đô 12 km.

Khối đá vôi đền Đuổn hình thù kỳ dị mọc lên ngay sát phía tây quốc lộ ở Km94, thị trấn Đu hay Phú Lương nằm ở Km90 trong thị trấn đi ngang qua chợ Đu, thị trấn Giang Tiên nằm ở Km84, rồi đến Bờ Đậu ở Km80 cách Thái Nguyên 10 km. Ngã ba Bờ Đậu vẫn thấy bày bán nhiều bánh chưng bánh tét, ngã rẽ hướng đông là QL37 đi Đại Từ, Sơn Dương.

Tối Thái Nguyên trời vẫn mưa to, tìm được chỗ ở khá tốt nằm về phía bắc ga Quán Triều cách trung tâm chừng vài cây số.

Ngày 5
Thứ Ba ngày 29 tháng 4 năm 2003
Đi Bắc Ninh. Khu Gang Thép, chùa Giám đền Xưa nơi thờ cụ Tuệ Tĩnh, Văn miếu Mao Điền, đền thờ Hải Thượng Lãn Ông, đầm Dạ Trạch, đền Chử Đồng Tử, đền bà Tấm, chùa Tứ Pháp, chùa Thái Lạc. Tối ngủ Hà Nội.

Thái Nguyên được tính là Km125 – QL37. Trung tâm thành phố nằm trong tam giác Lương Ngọc Quyến – Bắc Kạn – Hoàng Văn Thụ. Ngã ba Mỏ Bạch ở đầu đường Lương Ngọc Quyến và Bắc Kạn, đài liệt sỹ nằm ở đầu đường Bắc Kạn và Hoàng Văn Thụ.

Từ đài liệt sỹ đi theo đường Cách mạng tháng Tám chừng 8 km là đến khu Gang Thép, phía trước nhà văn hóa Gang Thép tìm đường Vó Ngựa đi Bắc Giang. Thị trấn Vó Ngựa ở Km116, đi đến Km105 thì lên đê rẽ phải đi đến Km102 là trung tâm thị trấn Ức Sơn. Tiếp tục theo đường đê phía trái thì sẽ đi Nhã Nam, rẽ phía phải theo QL37 đi đến Km96 là ranh giới Thái Nguyên – Bắc Giang.

Một thị trấn có tên là Thắng nằm ở Km90, ngã rẽ trái đi Cao Thượng 16 km, rẽ phải đi Đông Xuyên 17 km. Đi thẳng đến thị trến Bích Động ở Km75, rẽ trái đi Cao Thượng 16 km, rẽ phải đi 12 km về Bắc Ninh, đi thẳng vài bước thì ra Km129 – QL1A.

Bắc Ninh được tính là Km00 – QL38, loanh quanh một hồi thì tìm được đường ra cầu Hồ ở Km14, qua ngã tư Đông Côi đi đến Km22 là ranh giới Bắc Ninh – Hải Dương, đi thẳng thêm 10 km là ra ngã tư Quán Gỏi ở Km33 – QL5. Tại Km27 – QL38 phía trái là con đường HL5B (nay là DT388) đi chùa Giám đền Bia và đền Xưa là quê hương của danh y Tuệ Tĩnh. Theo con đường này đi một đoạn vài cây số thì đến ngã rẽ phải dẫn vào chùa Giám.

Chùa Giám xây cất cũng đơn giản thôi, nhưng bảo vật trong chùa phải kể đến tòa Cửu phẩm liên hoa bằng gỗ to lớn chạm khắc tinh xảo dựng ở gian sau của nhà chùa, tòa cối kinh này có lẽ còn to lớn và đẹp hơn cả tòa cối kinh ở chùa Bút Tháp.

Tiếp tục theo đường HL5B vài cây số nữa thì đến cầu Phú Lộc, đi ngã trái theo HL5B chừng vài cây số sẽ thấy đền Bia nằm phía trái đường. Cầu Phú Lộc cũng là Km00 – TL194, qua cầu đi vài trăm mét sẽ thấy ngã rẽ phải vào đền Xưa. Di tích đền Xưa cũng đơn giản, trước đền treo bảng tóm thuật thân thế sự nghiệp của cụ Tuệ Tĩnh. Không rẽ vào đền Xưa mà tiếp tục đi thẳng theo TL194 thì sẽ ra Lai Cách ở Km44 – QL5.

Ra đường QL5 nhắm hướng Hà Nội, văn miếu Mao Điền hay thường gọi là miếu làng Mao nằm ngay sát quốc lộ ở Km36, từ ngoài đường nhìn vào trông rất khang trang, có vào đến tận nơi mới thấy tòa miếu thờ Khổng Tử hãy còn sơ sài lắm, bị đổ nát và bị bỏ hoang phế một thời gian dài, nay mới bắt đầu cuộc trùng tu.

Rẽ ngã ba Phố Nối ở Km23 – QL5 đi về phía Hưng Yên, đi vài cây số là tới địa phận Liêu Xá, loanh quanh một lúc lâu mới tìm được lối vào làng. Liêu Xá là quê hương của Hải Thượng Lãn Ông, nhưng thật thất vọng, trong làng không có đền thờ ông mà chỉ có một nhà lưu niệm bảng đỏ vôi vàng trông giống như nhà bảo tàng cách mạng. Cạnh đó có ngôi đình làng cũ kỹ lắm, phía trước có ngôi miếu nhỏ là từ đường của nhà họ Lê tức phả tộc của ông Lê Hữu Trác.

Ngôi chùa làng Văn ở bên cạnh cũng cũ kỹ không kém, bên trong thì đã được trùng tu đôi chút nhưng tiếc rằng việc trùng tu vẫn mang phong cách gạch men. Sư thầy đang tắm rửa cho đứa bé con tí ti bị cha mẹ đem bỏ ở cổng chùa, tiện dịp chụp giúp sư thầy vài tấm ảnh lưu niệm hình hài đứa bé, vài hôm nữa lên Hà Nội rửa ra rồi sẽ gửi về cho nhà chùa.

Quay lại đường lớn đi thêm phải gần chục cây nữa mới tới ngã rẽ vào Khoái Châu, đoạn đường năm cây số từ đường lớn vào trung tâm Khoái Châu thật là trần ai, mặt đường nhựa bị bóc hết giữa đường là cái sống trâu, hai bên là các loại ổ gà ổ voi, ngồi trên xe máy mà lưng đau như bị tra tấn.

Nghĩa trang liệt sỹ Khoái Châu thật khang trang, đài liệt sĩ ốp gạch vàng trang trí bằng nhiều hình ngọn lửa đỏ, hai dãy nhà bia ghi công lợp ngói đỏ nằm cân xứng hai bên đài liệt sỹ.

Đi quá một đoạn thấy bên đường phơi thứ lá mùi hắc tưởng là ngải cứu, hỏi ra mới biết là lá bạc hà, tình cờ thấy một nhà đang chưng cất tinh dầu bạc hà bằng hai cái thùng phuy, cái bếp than và đoạn ống nước, thì ra cách thức cũng y như là lối ngưới ta nấu rượu gạo.

Đối diện với nghĩa trang là bưu điện Khoái Châu, con đường lớn bên hông bưu điện là TL205 nối trung tâm Khoái Châu với thị trấn Văn Giang, mà từ Văn Giang lại có đường đi ra Phú Thụy, xem ra con đường này mới là đường nên đi nếu từ Hà Nội muốn đi Khoái Châu. Hơn nữa đoạn đường từ Khoái Châu đến Văn Giang rất đẹp, con đường chạy dài rợp bóng hai hàng cây nhãn cổ thụ tán lá sum suê, hai bên đường ruộng lúa xanh rờn xen lẫn ruộng ngô đậu và bạc hà.

Từ bưu điện Khoái Châu đi vài cây số là thấy ngã rẽ phía trái đi 900 m vào đầm Dạ Trạch, đầm nằm ngay dưới chân đê sông Hồng, cả một bãi bồi rộng lớn dưới chân đê phía trong đầm phủ kín cây húng quế.

Lên mặt đê rẽ về phía Hà Nội là nhìn thấy ngay doi đất dẫn ra đền Chử Đồng Tử – Tiên Dung, con đường vào đền cũng đẹp, xung quanh rợp bóng các cây nhãn cổ thụ, ngôi đền nhìn thẳng ra bến sông Hồng, hiện được bảo quản trong tình trạng khá tốt, sạch sẽ gọn gàng.

Theo đường đê đi một đoạn, lẽ ra đi thẳng là có thể đi ngang qua Bát Tràng về Hà Nội, nhưng lại rẽ xuống đê ngay chỗ thị trấn Văn Giang để đi ra Phú Thụy cách Văn Giang 9 km.

Ra tới ngã tư đi ngược chiều chừng trăm mét về phía Phố Nối là đến đền Bà Tấm thờ Nguyên Phi Ỷ Lan ở khoảng Km10 – QL5, nơi thờ bà khá rộng rãi, giờ là nơi cúng bái khá tiếng tăm nên trông rõ ràng là được tu sửa đều đặn, thợ thuyền đang tạo thêm chút cảnh quan ngoài sân trước, hai con rồng lớn làm bằng xi măng cũng đang tô điểm thêm, trong đền không có cổ vật nào đáng kể.

Chạy ngược đường QL5 tới thị trấn Chợ Đường Cái ở Km17, chui qua cầu chui rồi thì phía trái đường có ngã rẽ vào chùa Thái Lạc, phải chạy quá lên một đoạn xa mới có chỗ vòng lại. Đầu ngã rẽ có ngôi chùa lớn nằm ngay sát quốc lộ đó là chùa Tứ Pháp, rẽ vào đường làng đi chừng cây số là vào chùa Thái Lạc.

Chùa Thái Lạc cũng rất giản di, các cốt tượng trong chùa hầu như đã được làm mới, duy chỉ có phần trần nhà trong chính điện là còn lưu giữ những tấm điêu khắc gỗ và lưu chút dấu ấn của không gian nhà Trần, nếu không phải là người hiểu biết sâu sắc thì khó lòng cảm nhận được sự khác biệt. Còn chùa Tứ Pháp phía ngoài sẽ là một sự thất vọng lớn tuy lúc này trời tối không được vào trong chùa nhưng chỉ cần nhìn diện mạo bên ngoài là đã chắc mẩm được lối trùng tu thô bạo này sẽ ăn vào tận bên trong, làm mất hẳn ý nghĩa cổ xưa của ngôi chùa.

Chạy thẳng về Hà Nội, ngang qua đầu cầu Chương Dương thấy sầm uất quá mất một hồi lâu mới quyết định qua cầu về Hà Nội trọ ở khách sạn Huyền Châu ở đầu đê Yên Phụ. Đến đây coi như kết thúc chuyến đi về đất Hà Bắc và Cao Bắc Lạng, cộng với chuyến đi trước về vùng Đông Bắc và Tây Bắc thì những điều tai nghe mắt thấy quả là không ít. Riêng Hà Nội là nơi gần nhất và thường có dịp ra nhất thì để dành khảo sát dần trong những ngày tiếp theo.

Leave a Reply

Your email address will not be published.