Llama, Alpaca, Guanaco và Vicuña

The Great Interchange

Những loài lạc đà cổ xưa nhất thuộc họ Camelidae xuất hiện ở Bắc Mỹ vào khoảng 40-50 triệu năm trước rồi dần dần di trú đến các lục địa khác, đến khoảng 10,000 năm trước thì Bắc Mỹ không còn lạc đà.

  • Khoảng 8 – 14 triệu năm trước băng qua eo đất Alaska – Siberia di cư sang lục địa Á – Âu.
  • Khoảng 3 – 4 triệu năm trước băng qua eo đất Panama di cư xuống lục địa Nam Mỹ.

Nhờ khả năng thích nghi với những điều kiện khắc nghiệt mà loài camelid được thuần hóa, được sử dụng nhiều và đến nay đã trở thành một phần của các nền văn hóa ở Trung Đông, châu Phi và Nam Mỹ.


Các loài Camelid ở Nam Mỹ

Trong cuộc thiên di ấy có những loài thuộc họ camelid xuất xứ từ Bắc Mỹ đã di cư xuống Nam Mỹ thích nghi và tiến hóa đến nay thành 4 loài là llama, alpaca, guanco và vicuña, trong đó chỉ có 2 loài llama và alpaco là đã được thuần hóa còn 2 loài kia thì vẫn là thú hoang dã.

Llama

Llama là con có kích thước to nhất trong cả 4 con, nó đứng cao khoảng ngang đầu người. Loài này không đủ to và chân không đủ khỏe để cưỡi nên ngoài việc lấy thịt thì llama chỉ dùng để chở đồ, mỗi con chở được khoảng 20kg. Người Inca không có lừa ngựa và không biết làm bánh xe vì vậy con llama này là công cụ chuyên chở duy nhất của họ. Nhìn bên ngoài thì con llama cao to và dễ nhận diện nhờ có đôi tai cong hình trái chuối. Llama có 2 giống:

  • Llama Qara còn khoảng 2 triệu con.
  • Llama Chaku còn khoảng 2.5 triệu con.
Alpaca

Con alpaca thì chỉ cao chừng ngang ngực người ta, lông rất dày nên bên ngoài trông mũm mĩm. Lông alpaca tương đối mềm mịn dùng làm khăn áo thì đẹp và ấm áp, lại có sản lượng cao nên giá thành tương đối dễ mua, vì vậy khăn áo thời trang làm bằng lông alpaca rất phổ biến và là món quà đặc sản của Peru. Ngoài việc lấy lông thì người ta còn nuôi alpaca để lấy thịt, món alpaca steak là một món thịt đỏ phổ biến của người Peru. Alpaca có 2 giống:

  • Alpaca Huacaya còn khoảng 4 triệu con.
  • Alpaca Suri còn khoảng 600.000 con.
Guanaco

Guanaco và vicuña là thú hoang dãn, cả hai đều được bảo tồn và cấm săn bắn. Để khai thác lông của guanaco và vicuña người ta phải có giấy phép đặc biệt của chính phủ để thành lập những khu vực bán hoang dã (semi-captive) có diện tích hàng trăm đến cả ngàn hecta, rào lại, đến kỳ thì đi bắt chúng về xén lông rồi lại thả ra. Về ngoại hình thì guanaco rất giống vicuña, tuy nhiên guanaco to hơn vicuña một chút và không có chòm lông dài trước ngực. Hiện nay guanaco còn khoảng 650.000 con.

Vicuña

Con vicuña là quý nhất vì có bộ lông cực mịn được dùng để làm những chiếc áo thời trang rất đắt giá, có lẽ vì vậy mà vicuña bị săn bắn rất nhiều và đang được bảo tồn nghiêm ngặt. Vicuña có kích thước nhỏ nhất trong 4 con nên cho ít lông hơn, hơn nữa do là loài có nguy cơ tuyệt chủng cao nên theo qui định thì phải 3 năm mới được xén lông một lần, lông của vicuna vì thế đã hiếm lại càng hiếm hơn. Một chiếc áo lông vicuña được thiết kế mỹ thuật có giá khoảng vài chục ngàn USD. Con vicuña có một chòm lông mềm phất phơ trước ngực và đó là đặc điểm để phân biệt với con guanaco. Hiện nay vicuña còn khoảng 250.000 con.

Vicuña được xuất hiện trên quốc huy của Peru cùng với hình ảnh của cây canh-ki-na (Fr:quinquina, En: cinchona) và chiếc sừng sung túc.

Hình vicuna trên quốc huy của Peru

The vicuña produces a fiber of very fine texture (about 12 microns in diameter) that can be woven into luxury garments. Raw fiber from vicuña has been legally auctioned at up to US $500 per kg (US $200 per lb) and an average vicuña fleece provides about 0.2 kg (0.5 lbs) of fiber. Individual vicuña thus have a fleece that is worth many times that of a sheep and several times that of other species in the family Camelidae, such as alpacas and llamas. 

The vicuña produces a fiber of very fine texture (about 12 microns in diameter) that can be woven into luxury garments. Raw fiber from vicuña has been legally auctioned at up to US $500 per kg (US $200 per lb) and an average vicuña fleece provides about 0.2 kg (0.5 lbs) of fiber. Individual vicuña thus have a fleece that is worth many times that of a sheep and several times that of other species in the family Camelidae, such as alpacas and llamas. 

U.S. Fish and Wildlife Service

Alpaca Steak

Alpaca steak có thể nói là món phổ thông ở Peru nói riêng và trên vùng núi Andes nói chung. Alpaca thuộc loại thịt đỏ, các nhà hàng ở Cusco hay làm steak ăn chung với thứ cơm nấu bằng loại hạt tên là quinoa là thứ hạt ngũ cốc phổ thông của Peru. Hạt này nó nhỏ tựa như hạt kê vậy, nhưng tra từ điển thì thấy dùng chữ “diêm mạch” hơi khó hiểu. Nói chung thì nếm thử cho biết thôi, chứ có lẽ mùi vị của thịt alpaca không hấp dẫn bằng thịt bò.


Spread the love

Bình luận

Your email address will not be published.